Tóm Tắt Tiểu Sử Ngài Tam Tạng Thứ Vii Sīlakkhandhābhivaṁsa - Tom tat Tieu su Ngai Tam Tang thu VII Sīlakkhandhābhivaṁsa | www.chuaphapquang.com

Pháp Quang Tự

Pháp Quang Tự

You need to enable JavaScrip or Install Flash player

Câu hỏi thường gặp

6
1.321.383

hinh phật

tang xa

tangxa1

tang xa 2

kathina

chutang di bat

be dat bat

dat bat

dat bat1

dat bat 3

di tu

cau nguyen

  • Tóm tắt Tiểu sử Ngài Tam Tạng thứ VII Sīlakkhandhābhivaṁsa

  • Tóm tắt Tiểu sử Ngài Tam Tạng thứ VII Sīlakkhandhābhivaṁsa
    Ngày đăng: 15/10/2011

    Ngài Tam tạng Sīlakkhandhābhivaṁsa là vị Tam tạng thứ bảy trong 12 vị Tam tạng từ trước đến nay tạiMyanmar (Miến Điện). Ngài là vị Tam tạng thứ 3 trong 8 vị Tam tạng hiện đang còn sống, 4 vị Tam tạng đầu tiên đã viên tịch.

  •  

    Tóm tắt Tiểu sử Ngài Tam Tạng thứ VII Sīlakkhandhābhivaṁsa

     

     

     


    Ngài Sīlakkhandhābhivaṁsa thông thuộc thấu suốt tất cả Tam tạng Kinh điển lúc Ngài 36 tuổi. Ngài học Tamtạng Kinh điển trong suốt 15 năm thì thông thuộc tất cả. Ngài là một người luôn nỗ lực phấn đấu không ngừngtrong việc học tập, cố gắng tích lũy kiến thức càng nhiều càng tốt, và làm nhiều công việc đem lại lợi ích cho mọingười, cho quê hương, đất nước.
    Ngài Tam tạng Sīlakkhandhābhivaṁsa là vị Tam tạng thứ bảy trong 12 vị Tam tạng từ trước đến nay tạiMyanmar (Miến Điện). Ngài là vị Tam tạng thứ 3 trong 8 vị Tam tạng hiện đang còn sống, 4 vị Tam tạng đầu tiên đã viên tịch.

    THỜI THƠ ẤU & XUẤT GIA LÀM SA-DI

    Ngài có thế danh là Maung Thein Htun, sinh vào ngày thứ Sáu, 10-01-1964, tại thôn Pan Taw Su, huyệnMaw Kyun (Mawlamyine Kyun), thuộc tỉnh Irrawaddy. Song thân là cụ ông U Htun Tin và cụ bà Daw Than Ri.Ngài là anh cả trong gia đình có bảy anh em.
    Năm 10 tuổi (1974), Ngài được gởi đến ngài Indaka ở chùa Mahā Aung Mye Bon Tha thuộc thôn MaYan, huyện Maw Kyun, để nương tựa và học chương trình Phật Pháp vỡ lòng, bao gồm: Ân đức Tam bảo, 11 bàikinh Paritta, phận sự của Sa-di và văn hóa ứng xử Phật giáo đối với mọi người trong gia đình và ngoài xã hội.Trong vòng 5 tháng, Ngài đã học xong chương trình Phật pháp này.
    Năm 11 tuổi (1975), Ngài được chọn để tham gia kỳ thi Vinayapāla (Hộ trì giới luật) và được thọ giới Sa-di, do ngài Indaka làm thầy tế độ và ông bà, cha mẹ làm thí chủ cúng dường lễ xuất gia, với pháp danh làSīlakkhandha (Sì-lác-khần-đá). Sau khi thọ Sa- di được 6 ngày, Ngài đã học thuộc lòng và thi đỗ xuất sắc lớp cao học của kỳ thi Vinayapāla, gồm 4 quyển luật: Luật Tỳ-khưu (Bhikkhupātimokkha), Luật Tỳ-khưu-ni(Bhikkhinīpātimokkha), Học pháp tóm lược (Khuddasikkhā) và Học pháp căn bản (Mūlasikkhā).
    Năm 12 tuổi (1976), Ngài học thuộc lòng bộ luật Pārājikapāḷi – bộ đầu tiên của tạng luật – và thi đỗ lớp thủkhoa của chương trình Vinayapāla.
    Năm 13 tuổi (1977), Ngài được thầy tế độ là ngài Indaka gởi đến Phật học viện In-sein Ywa-ma, thuộcthành phố Yangon và được các giảng sư uyên bác tại Phật học viện này, như là ngài Nandavaṁsa, ngài Tilokābhivaṁsa… chuyên tâm giảng dạy những kiến thức căn bản của Tam tạng Kinh điển.
    Năm 14 tuổi (1978), Ngài thi đỗ lớp Sơ cấp Phật học (Pa-tha-ma- nge), năm 15 tuổi (1979) thi đỗ lớpTrung cấp Phật học (Pa-tha- ma-lat), và năm 17 tuổi (1981) thi đỗ lớp Cao cấp Phật học (Pa- tha-ma-gyi), các kỳthi này do chính phủ tổ chức. Đặc biệt trong cả 3 chương trình thi, Ngài đều trả lời bằng ngôn ngữ Pāḷi, và ở kỳ thilớp cao cấp, Ngài đã đứng thứ ba toàn quốc. Sau khi thi đỗ lớp Cao cấp Phật học, Ngài được Trưởng lãoTilokābhivaṁsa gởi đến Phật học viện Mahāvisuddhārāma, thuộc thị trấn Pakhukkū để học chương trìnhDhammācariya (Giảng sư Pháp học) và phương pháp giảng giải nổi tiếng ở đây trong suốt 2 năm.

    THỌ GIỚI TỲ-KHƯU

    Năm 20 tuổi (1984), Ngài thọ giới Tỳ-khưu tại Đại giới đường của Phật học viện Ko Hsaung thuộc thị trấnMyin-gyan với thầy tế độ là ngài Đại Trưởng lão Nandavaṁsa, ở Phật học viện In-sein Ywa-ma, thí chủ hộ pháp làgia đình ông bà U Shein và Daw Pale ở thị trấn Myin-gyan. Đặc biệt trong lễ thọ giới Tỳ-khưu này, Giáo thọ sư vàĐệ nhất Tuyên luật sư của Ngài là ngài Đại Trưởng lão Đệ nhất Tam tạng Mingun Sayadaw. Cũng trong năm này(1984), Ngài đến Phật học viện Mahāthūpārāma để học những phương pháp học hiểu liên quan đến giáo trìnhDhammācariya, dưới sự hướng dẫn của ngài Đại Trưởng lão Dhammasāmi trong khoảng 6 tháng, và Ngài đã thi đỗ1 trong 3 bộ môn đại cương Pháp học Phật giáo của chương trình Dhammācariya (Giảng sư Pháp học), đó là: Đạicương bộ Luật, quyển Pārājika. Năm sau (1985) Ngài thi đỗ tiếp Đại cương bộ Kinh, quyển Sīlakkhandha.

    HÀNH TRÌNH HỌC VÀ THI TAM TẠNG

    Sau khi thi đỗ 2 trong 3 giáo trình của chuyên ngành Dhammācariya (Đàm-mà-chá-rí-giá: Giảng sư Pháp học),Ngài bắt đầu tham gia học thi Tam tạng.
    Năm 22 tuổi (1986), Ngài thi đỗ phần học thuộc lòng 2 bộ đầu của tạng Luật – Pārājika và Pācittiya(Ubhatovibhaṅgadhara), và cũng trong năm này Ngài thi đỗ giáo trình Abhivaṁsa (Á-bí- voăng-sá: Giảng sư Pháphọc uyên bác) của hội Phật học Nyaung Don Sudhammapariyatti. Kể từ đây, Pháp danh của Ngài được gọi một cách kính trọng và đầy đủ là Sīlakkhandhābhivaṁsa.
    Năm 23 tuổi (1987), Ngài đến trung tâm học Tam tạng của ngài Đại Trưởng lão Đệ nhất Tam tạng MingunSayadaw (Bhaddanta Vicittasārābhivaṁsa) ở tỉnh Sa-gaing, thuộc miền Trung Miến Điện để xin nương nhờ vàmưu cầu Pháp học. Cũng trong năm này, Ngài đã thi đỗ phần học thuộc lòng 3 bộ sau của tạng Luật – Mahāvagga, Cūlavagga và Parivāra – trở thành bậc Vinayadhara: Bậc thông thuộc Luật tạng, đồng thời cũng thi đỗphần còn lại của giáo trình Dhammācariya (đại cương bộ Vi Diệu Pháp quyển Dhammasaṅganī), hoàn thành xongchương trình Đại cương Pháp học Phật giáo với danh hiệu Sāsanādhaja Dhammācariya.

    CÁC TÁC PHẨM DO NGÀI BIÊN SOẠN

    Trong quá trình dạy chương trình Pāḷipāragū tại Học viện Nikāya, tác phẩm “Phương pháp học Pāḷipāragū”và “Vinaya-pāḷipāragū” (uyên thâm về Pāḷi của tạng Luật ) được biên soạn và xuất bản, giúp các học tăng gỡ rối những thuật ngữ và văn phạm Pāḷi.
    Sau đây là những tác phẩm đã được biên soạn và xuất bản để hỗ trợ các học tăng đang tham gia chương trình thi Tam tạng ở phần thi viết:
    - Pārājikakaṇḍaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Luật Pārājika) (2 tập) (tiếng Pāḷi)
    - Pācittiyaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Luật Pācittiya) (tiếng Pāḷi)
    - Mahāvaggaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Luật Mahāvagga) (tiếng Pāḷi)
    - Cūḷavaggaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Luật Cūḷavagga) (tiếng Pāḷi)
    - Parivāraṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Luật Parivāra) (tiếng Pāḷi)
    - Dhammasaṅgaṇīṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Bộ Vi Diệu Pháp Dhammasaṅgaṇī) (tiếng Pāḷi)
    - Vibhaṅgaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Vi Diệu Pháp Vibhaṅga) (tiếng Pāḷi)
    - Dhātukathādiṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Vi Diệu Pháp Dhātukathā, Puggalapaññatti và Kathāvatthu) (tiếng Pāḷi)
    - Yamaka-paṭṭhānaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Vi Diệu Pháp Yamaka và Paṭṭhāna) (tiếng Pāḷi)
    - Suttanta Mahāvaggaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Kinh Mahāvagga) (tiếng Pāḷi)
    - Pāthikavaggaṭīkāsāra (Tinh hoa phụ chú giải bộ Kinh Pāthikavagga) (tiếng Pāḷi)
    - Sutabuddhawin (Thanh Văn Phật sử) (tiếng Myanmar)

    Ngoài ra, Ngài Tam tạng Sīlakkhandhābhivaṁsa đã sưu tập, xuất bản và cúng dường tất cả các bộ đề thiTam tạng từ những thập niên trước cho đến nay, là những tài liệu vô cùng quý hiếm và bổ ích đối với những vị đanghọc thi Tam tạng. Đối với hàng Phật tử tại gia, Ngài đã soạn và xuất bản những tập sách nhỏ giải thích về lợi ích củaviệc thực hành thiện pháp trong đời sống hàng ngày như “Nên phát triển từ tâm”, “Lợi ích lớn của bố thí vô phân biệt”...

    ĐỀN ƠN QUÊ HƯƠNG, THẦY TỔ :

    Kể từ khi thông thuộc thấu suốt Tam tạng, Ngài Sīlakkhandhābhivaṁsa đã nhiều lầnđền ơn quê hương, thầy tổ với nhiều cách khác nhau.
    - Cúng dường thuyền máy, máy xay lúa, máy bơm nước, điện thoại... đến ngài Đại Trưởng lão ở chùa MaYan, nơi Ngài lớn lên và nơi nuôi dưỡng Ngài những ngày đầu trong giáo pháp của Đức Từ Phụ.
    - Trùng tu bảo tháp bị hư hoại bởi bảo lụt, lát đường và bố thí máy phát điện ở thôn Pa Taw Su.
    - Vận động xây dựng trường tiểu học, trường trung học, xây dựng các phòng học, ủng hộ các nhu yếu phẩm cho trường học, như máy phát điện, giếng nước và máy bơm nước, bàn, ghế, tủ... ở thôn Ma Yan.
    - Ủng hộ máy phát điện có công suất lớn cho bệnh viện nhân dân ở thị trấn Maw Kyun và thị trấn BoKalay, mỗi nơi một máy.
    - Xây dựng phòng khám, phòng chữa bệnh và hỗ trợ những dụng cụ y tế cần thiết ở thôn Ma Yan.
    - Xây dựng cúng dường Phật thất để tôn trí tượng Phật lớn ở thôn Ma Yan và thôn Kyaik Pi Taik.
    - Xây dựng các cầu cống bắc qua những sông rạch ở vùng phụ cận của thôn Ma Yan, giúp dân làng đi lại an toàn và thuận lợi...

    HOẰNG PHÁP LỢI THA

    Vận động cứu trợ các nạn nhân bị thiên tai, lũ lụt, đặc biệt là bão Nargis vào năm 2008 đã cướp đi sinh mạngnhiều người và của cải. Chủ trương mở các phòng khám bệnh định kỳ ở trong Học viện Nikāya, khám mắt và taimiễn phí, tổ chức hiến máu 4 tháng một lần. Vào năm 2010, mở trường học bồi dưỡng miễn phí cho các học sinh lớp 10 ôn thi vào đại học.
    Ngoài việc dạy học, đào tạo tăng tài, viết sách và thuyết giảng Phật pháp, Ngài Tam tạng còn là người lãnhđạo trong ban trị sự trung tâm đào tạo Tam tạng Mingun Tipiṭaka Nikāya, và làm cố vấn cho nhiều tổ chức và chihội Phật học khắp cả nước, như: Hội Thắp sáng Pháp học Nikāya, Hội Phát triển Vi Diệu Pháp Sule, Hội Từ thiện Phật giáo Toàn quốc Myanmar...

    HẦU CHUYỆN VỚI NGÀI TAM TẠNG SĪLAKKHANDHĀBHIVAṀSA

    Hỏi: Bạch Ngài, khi học thi Tam tạng, Ngài có thể học bao nhiêu trang sách trong một ngày?
    Đáp: Không học các bài mới suốt ngày, chỉ học bài mới vào buổi sáng mà thôi, thời gian còn lại trong ngày làôn lại những bài cũ đã học. Khi học bài mới thì ngoài những câu kệ tóm tắt ở cuối các chương, cứ mỗi 15 phút làhọc thuộc 1 trang sách; 4 giờ sáng bắt đầu học thì mỗi buổi sáng học được 16 trang sách.

    Hỏi: Bạch Ngài, Ngài duy trì thế nào để không quên những bài đã học?
    Đáp: Để không quên thì phải thường xuyên ôn lại. Một người với trí nhớ siêu việt thế nào đi nữa, nếu khôngthường xuyên ôn lại những bài vở đã học thuộc thì lâu ngày cũng sẽ quên thôi. Cũng cần giới hạn các đối tượng bênngoài có thể làm phân tâm; nếu các đối tượng bên ngoài được giới hạn và siêng năng ôn lại thì những bài đã học thuộc rất khó quên.

    Hỏi: Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết những khó khăn khi học thuộc lòng Tam tạng Pāḷi và đọc tụng trong các kỳ thi?
    Đáp: Có nhiều khó khăn nhất định, và khó nhất là những đoạn lặp lại nằm ẩn mình rải rác ở rất nhiều trang trong Tam tạng Pāḷi, đó là những đoạn có nội dung đã được trình bày ở các trang trước và ở các trang sau chúngkhông được đề cập lại nữa mà chỉ có từ ‘peyyāla’ có nghĩa là ‘lặp lại’. Nếu những đoạn lặp lại ẩn này ổn định thìhọc rất dễ, còn nếu chúng không ổn định thì học cực kỳ khó. Trong Tam tạng Pāḷi, các bộ sách như bộ LuậtPācittiya, bộ Vi Diệu Pháp Dhammasaṅgaṇī có những đoạn lặp lại ẩn rất tuyệt; nếu các bộ sách khác có nhữngđoạn lặp lại ẩn kiểu này thì học rất nhanh. Những đoạn lặp lại ẩn khó nhất là ở bộ Vi Diệu Pháp Paṭṭhāna, kế đến làbộ Kathāvatthu; nội dung vốn đã khó, cộng thêm những đoạn lặp lại ẩn không ổn định, khiến đã khó càng khó hơn.

    Hỏi: Bạch Ngài, ai đã làm những đoạn lặp lại ẩn mình bất ổn như thế?
    Đáp: Trước tiên là các vị Thánh Tăng. Sau đó những người viết Tam tạng trên lá bối đã chỉnh sửa, khiếnnhững đoạn lặp lại ẩn này bất ổn như bây giờ. Trong mấy lần kết tập Tam tạng, chúng không được quan tâm đúngmức, nên càng về sau càng bất ổn. Bây giờ, nếu các vị thông thuộc thấu suốt Tam tạng cùng với chư Tăng uyênthâm Pháp học tổ chức một hội nghị, tạm gọi là “Hội nghị Tập hợp các đoạn lặp lại ẩn”, để giải quyết vấn đề liên quan đến những đoạn lặp lại ẩn này thì thật lợi ích vô cùng.
    Cơ hội học hỏi
    Có câu nói đầy kinh nghiệm của các cổ nhân thiện tri thức như thế này: “Nếu muốn có kiến thức và trí tuệthì phải học hỏi khi có cơ hội học hỏi”. “Phải học hỏi khi có cơ hội học hỏi” có nghĩa phải cố gắng, tranh thủ họchỏi, khi điều kiện cho phép. Học hỏi kiến thức không phải khi nào cũng có điều kiện thuận lợi. Chỉ khi nào hội đủnhân duyên, khi nào sức khỏe còn tốt, khi nào không vướng bận phụng dưỡng mẹ cha và thầy tổ, khi nào có đủnhững hỗ trợ vật chất cần thiết, khi nào tuổi còn trẻ và trí nhớ còn minh mẫn, và khi nào không có những cản trởkhách quan, chúng ta mới có thể cắp sách đến trường, học hỏi kiến thức được. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng họchỏi khi điều kiện cho phép, thay vì lãng phí thời gian. Nếu không, sau này lúc chúng ta rất muốn học mà điều kiệnkhông thuận lợi thì dù có thốt lên rằng “tôi muốn học quá” cũng vô ích mà thôi. Chúng ta đã từng nghe câu nói “cơhội không đến hai lần”, vì vậy, hãy đừng bỏ qua cơ hội học hỏi.

    Nỗ lực làm việc
    Kiếp sống của chúng ta bây giờ là ở cõi người. Kiếp người là kiếp sống dựa vào nỗ lực bản thân. Vì vậy,theo kinh sách, chúng ta được gọi là người sống lệ thuộc vào kết quả của công việc thường ngày(upaṭṭhānaphalupajīvī). Con người phải nỗ lực bản thân mới sống còn, nếu không có nỗ lực bản thân thì sẽ khôngtồn tại. Ở trên kia, chư thiên và chư Phạm Thiên không giống chúng ta, họ không cần làm việc, họ sống an nhànvới quả phước của thiện nghiệp mà họ đã làm trong những kiếp quá khứ. Vì vậy, chư thiên và chúng Phạm Thiênđược gọi là chúng sanh sống dựa vào quả phước của thiện nghiệp (puññaphalupajīvī). Họ không làm việc là vì ởcảnh giới của họ không cần làm mà vẫn sống thoải mái, hạnh phúc. Đối với cảnh giới của chúng ta thì khác, chúng takhông thể lười biếng mà cần phải làm việc mới có thể sống còn. Là những người phải nỗ lực bản thân và sống dựavào kết quả của công việc thì không nên bắt chước những chúng sanh sống nhờ vào quả phước của thiện nghiệp trong quá khứ.

    Thực hành thiện nghiệp
    Đức Phật dạy “sukho puññassa uccayo”, có nghĩa là “làm hưng thịnh các thiện nghiệp là nguyên nhân manglại hạnh phúc”. Vậy thì, để có hạnh phúc, giàu sang như ý, trong tâm thức cần có nhiều phước thiện, nhiều côngđức. Hạnh phúc, giàu sang đi chung với thiện nghiệp mới bền vững. Hạnh phúc, giàu sang mà không đi chung vớithiện nghiệp thì rất mong manh. Vì vậy, chúng ta nên thường xuyên tạo phước và thực hành thiện nghiệp.

    Ghi nhận công hạnh của Ngài
    Thật ra, những điều mà chúng ta biết về Ngài Đại Trưởng lão Tam tạng Bhaddanta Sīlakkhandhābhivaṁsa thìrất ít so với những điều mà chúng ta chưa được biết về Ngài. Tóm lược tiểu sử Ngài Đại Trưởng lão Tam tạngBhaddanta Sīlakkhandhābhivaṁsa chỉ là một phần rất nhỏ trong muôn ngàn sự nghiệp lớn lao của Ngài mà thôi.
    Dù chỉ một phần nhỏ như vậy cũng làm cho chúng ta vô cùng kính phục, vô cùng tôn kính cuộc đời và sựnghiệp của Ngài đã đóng góp vào sự bảo tồn, duy trì giáo pháp của Đức Phật Gotama thật sự. Do đó, Chính phủMyanmar thành kính dâng lên Ngài danh hiệu cao thượng là: “Tipiṭakadhara Tipiṭakakovida Dhammabhaṇḍāgārika” (Bậc Thông Thuộc Thấu Suốt Tam Tạng, Bậc Giữ Gìn Kho Tàng Pháp Bảo), thật xứng đáng với công hạnh của Ngài.

                                          Sādhu, Sādhu, Lành thay! Anumodāma! 
                         Soạn dịch từ tiếng Myanmar, thứ Sáu, ngày 23 tháng 9 năm 2011 
                                                      Sư Thiện Đức (Kusalaguna)


     

     

      Từ ngày 10/10 đến ngày 22/10/2011, Ngài Đại Trưởng Lão Tam Tạng Thứ VII Bhaddanta Sīlakkhandhābhivaṁsa sẽ đến Việt Nam và dự Lễ Dâng Y một số chùa như Bửu Long, Viên Không,...
            Sau đây là chương trình tham quan của Ngài tại Việt Nam:

     

      

    CHƯƠNG TRÌNH DỰ LỄ DÂNG Y KATHINA VÀ THAM QUAN VIỆT NAM 2011

    CỦA NGÀI ĐẠI TRƯỞNG LÃO TAM TẠNG THỨ 7

    SAYADAW Bhaddanta Sīlakkhandhābhivaṁsa

    Tipiṭakadhara Tipiṭakakovida Dhammabhaṇḍāgārika

    Bậc Thông Thuộc Thấu Suốt Tam Tạng

    Bậc Giữ Gìn Kho Tàng Pháp Bảo

     

    TỪ 10-10 ĐẾN 22-10-2011 (NHẰM 14-9 ĐẾN 26-9-TÂN MÃO)

    DO ĐẠI GIA ĐÌNH THÍ CHỦ HỒNG-TUYẾT-SƯƠNG THỈNH

    (đến TP.Hồ Chí Minh – đi Thủ Đô Hà Nội)

     

    NGÀY 1: (Thứ 2, ngày 10-10-2011) 14-9-ÂL: 9h30 tối Gia đình thí chủ cùng Phật tử đón phái đoàn tại Sân bay Tân Sơn Nhất về nghỉ tại Phú Mỹ Hưng.

    NGÀY 2: (Thứ 3, ngày 11-10-2011) 15-9-ÂL: Sáng tham quan Sài Gòn, gia đình Hồng-Tuyết-Sương trai Tăng sáng-trưa. 1h30’ chiều đi Tổ Đình Bửu Long làm lễ Mahàpavàranà cùng chư Tăng Viên Không và Bửu Long. Nghỉ đêm tại Bửu Long. Khuya 4h30’ tham dự lễ An Vị Tôn Vinh Tượng Phật Tại ngôi Bảo Tháp Gotama (Anekajati).

    NGÀY 3: (Thứ 4, ngày 12-10-2011) 16-9-ÂL:  Thăm viếng và tiếp xúc Chư Tăng, Tu nữ cùng Phật tử và làm lễ trai tăng tại Tổ Đình Bửu Long. Nghỉ đêm tại Bửu Long.

    NGÀY 4: (Thứ 5, ngày 13-10-2011) 17-9-ÂL: dự lễ chính thức dâng y Kathina, thuyết pháp tại Tổ Đình Bửu Long. Nghỉ đêm tại Bửu Long.

    NGÀY 5: (Thứ 6, ngày 14-10-2011) 18-9-ÂL: dùng sáng tại Tổ Đình Bửu Long, trưa trai Tăng tại gia đình Ngọc Vũ. Nghỉ đêm tại Bửu Long.

    NGÀY 6: (Thứ 7, ngày 15-10-2011) 19-9-ÂL: Sau khi dùng sáng tại Tổ Đình Bửu Long xong, tạm biệt chư Tăng, Tu Nữ và Phật Tử đi dự lễ dâng y Kathina tại chùa Siêu Lý, Phú Định, chiều đi Vũng Tàu, nghỉ đêm tại TP. Vũng Tàu. (Nhóm Ngọc Vũ làm thí chủ).

    NGÀY 7: (Chủ Nhật, ngày 16-10-2011) 20-9-ÂL: Sau khi dùng sáng tại TP. Vũng Tàu. 7h30’ đi Viên Không dự lễ dâng Y Kathina. Nghỉ đêm tại Viên Không.

    NGÀY 8: (Thứ 2, ngày 17-10-2011) 21-9-ÂL: Sau khi dùng sáng tại Viên Không xong, đi Sài Gòn dùng trưa tại nhà chị Tuyết, hoặc tại chùa Kỳ Viên, 2h chiều ra sân bay đi Huế. Nghỉ đêm tại Huế.

    NGÀY 9: (Thứ 3, ngày 18-10-2011) 22-9-ÂL: Tham quan Tp. Huế. Nghỉ đêm tại Huế.

    NGÀY 10: (Thứ 4, ngày 19-10-2011) 23-9-ÂL: Sáng tiếp tục tham quan Tp. Huế. Chiều ra sân bay đi Hà Nội. Nghỉ đêm tại Hà Nội.

    NGÀY 11: (Thứ 5, ngày 20-10-2011) 24-9-ÂL: Tham quan Tp. Hà Nội. Nghỉ đêm tại Hà Nội.          

    NGÀY 12: (Thứ 6, ngày 21-10-2011) 25-9-ÂL: Tham quan Yên Tử-Hạ Long. Nghỉ đêm tại Hạ Long.

    NGÀY 13: (Thứ 7, ngày 22-10-2011) 26-9-ÂL: Phật tử Hà Nội đến thăm viếng, trai Tăng, chiều đưa tiễn Ngài về Myanmar, kết thúc hành trình.

    Ghi chú: Ngoài thời gian đón, tiễn và lễ dâng y Kathina, trai Tăng là nhất định, riêng lịch trình tham quan, đi Huế, Hà Nội còn tùy thuộc vào thời tiết, sức khỏe và tâm nguyện của Ngài và Phật tử cũng như gia đình các thí chủ.

Yêu thíchPhản hồiIn bài viết